I have heard that:
On one occasion the Blessed One was staying among the Udaññans, in the Deer Park at Kannakatthala. And at that time King Pasenadi Kosala had arrived at Udañña on some business or other. So King Pasenadi Kosala said to one of his men,
-"Come, my good man. Go to the Blessed One and, on arrival, showing reverence with your head to his feet in my name, ask whether he is free from illness & affliction, is carefree, strong, & living in comfort, saying: 'King Pasenadi Kosala, lord, shows reverence with his head to your feet and asks whether you are free from illness & affliction, are carefree, strong, & living in comfort.' And then say: 'Lord, today King Pasenadi Kosala will come to see the Blessed One after his morning meal.'"




Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú tại Ujunna, gần vườn Lộc Uyển ở Kannakatthala. Lúc bấy giờ vua Pasenadi nước Kosala đi đến Ujunna có công việc. Rồi vua Pasenadi nước Kosala bảo một người:
– Đến đây, này Người kia. Hăy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và hỏi thăm có ít bệnh, ít năo, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú và thưa như sau: "Bạch Thế Tôn, vua Pasenadi nước Kosala cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có ít bệnh, ít năo, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không và thưa như sau: "Bạch Thế Tôn, hôm nay vua Pasenadi nước Kosala, sau buổi ăn sáng, sẽ đến yết kiến Thế Tôn".

 

Having responded,
- "As you say, sire" the man went to the Blessed One and, on arrival, having bowed down to him, sat to one side. As he was sitting there, he said to him:
-"King Pasenadi Kosala, lord, shows reverence with his head to your feet and asks whether you are free from illness & affliction, are carefree, strong, & living in comfort.
- And then he said, "Lord, today King Pasenadi Kosala will come to see the Blessed One after his morning meal."


– Thưa vâng, tâu Đại vương.
Người ấy vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, vua Pasenadi nước Kosala cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có ít bệnh, ít năo, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không và thưa như sau: "Bạch Thế Tôn, hôm nay vua Pasenadi nước Kosala, sau buổi ăn sáng, sẽ đến yết kiến Thế Tôn".

 

Now, the sisters Soma and Sakula 1 heard, "Today, they say, King Pasenadi Kosala will go to see the Blessed One after his morning meal." So they approached King Pasenadi while his meal was being served and on arrival said to him, "Well in that case, great king, show reverence with your head to his feet in our name, too, and ask whether he is free from illness & affliction, is carefree, strong, & living in comfort, saying: 'The sisters Soma and Sakula, lord, show reverence with their heads to your feet and asks whether you are free from illness & affliction, are carefree, strong, & living in comfort.'"

Hai chị em Soma và Sakula được nghe: "Hôm nay vua Pasenadi nước Kosala sau buổi ăn sáng, sẽ đến yết kiến Thế Tôn". Rồi hai chị em Soma và Sakula đi đến vua Pasenadi nước Kosala tại pḥng ăn, và thưa như sau:
– Tâu Đại vương, hăy nhân danh chúng thiếp cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có được ít bệnh, ít năo, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không và thưa giúp: "Bạch Thế Tôn, chị em Soma và Sakula cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có được ít bệnh, ít năo, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không".

 

Then, after his morning meal, King Pasenadi Kosala went to the Blessed One and, on arrival, having bowed down to him, sat to one side. As he was sitting there, he said to the Blessed One:
"The sisters Soma and Sakula, lord, show reverence with their heads to your feet and asks whether you are free from illness & affliction, are carefree, strong, & living in comfort."



Rồi vua Pasenadi nước Kosala sau buổi ăn sáng đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi, ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn: – Bạch Thế Tôn, hai chị em Soma và Sakula cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm Thế Tôn có được ít bệnh, ít năo, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không.

 

"But, great king, couldn't the sisters Soma and Sakula get another messenger?"


– Thưa Đại vương, v́ sao hai chị em Soma và Sakula lại không có thể nhờ một vị đưa tin khác ?

 

"Lord, the sisters Soma and Sakula heard, 'Today, they say, King Pasenadi Kosala will go to see the Blessed One after his morning meal.' So they approached me while my meal was being served and on arrival said to me, 'In that case, great king, show reverence with your head to his feet in our name, too, and ask whether he is free from illness & affliction, is carefree, strong, & living in comfort, saying: "The sisters Soma and Sakula, lord, show reverence with their heads to your feet and asks whether you are free from illness & affliction, are carefree, strong, & living in comfort."' Lord, the sisters Soma and Sakula show reverence with their heads to your feet and asks whether you are free from illness & affliction, are carefree, strong, & living in comfort."



– Bạch Thế Tôn, hai chị em Soma và Sakula có nghe: "Hôm nay vua Pasenadi nước Kosala sau buổi ăn sáng, sẽ yết kiến Thế Tôn". Rồi hai chị em Soma và Sakula đi đến con tại pḥng ăn và thưa như sau: "Tâu Đại vương, hăy nhân danh chúng thiếp cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có được ít bệnh, ít năo, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không và thưa: "Bạch Thế Tôn, hai chị Soma và Sakula cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm (Thế Tôn), có được ít bệnh, ít năo, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không".

 

"May the sisters Soma and Sakula be happy, great king."


– Thưa Đại vương, mong rằng hai chị em Soma và Sakula được hạnh phúc !

 

Then King Pasenadi Kosala said to the Blessed One, "Lord, I have heard that 'Gotama the contemplative says this: "It is not possible that a priest or contemplative would claim a knowledge and vision that is all-knowing and all-seeing without exception."' Those who say this: are they speaking in line with what the Blessed One has said? Are they not misrepresenting the Blessed One with what is unfactual? Are they answering in line with the Dhamma, so that no one whose thinking is in line with the Dhamma would have grounds for criticizing them?"

Rồi vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, con có nghe như sau: "Sa-môn Gotama có nói: "Không có một Sa-môn hay một Bà-la-môn nào toàn tri, toàn kiến, có thể tự cho là chứng được tri kiến viên măn; sự t́nh như vậy không thể xảy ra". Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: "Sa-môn Gotama có nói: "Không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào toàn tri, toàn kiến có thể cho là chứng được tri kiến viên măn; sự t́nh như vậy không thể xảy ra", bạch Thế Tôn, có phải những vị ấy nói lời Thế Tôn nói, họ không xuyên tạc Thế Tôn, không đúng như thật; họ giải thích pháp đúng pháp và những ai nói hợp pháp, đúng pháp sẽ không có cơ hội để chỉ trích hay không ?

 

"Great king, those who say that are not speaking in line with what I have said, and are misrepresenting me with what is untrue and unfactual."


Thưa Đại vương, những ai nói như sau:
"Sa-môn Gotama có nói: "Không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào toàn tri, toàn kiến, có thể cho là chứng được tri kiến viên măn; sự t́nh như vậy không thể xảy ra", những vị nói như vậy không nói đúng lời Ta nói, và họ xuyên tạc Ta một cách hư ngụy, không đúng sự thật.

 

Then King Pasenadi Kosala turned to General Vidudabha:
-"General, who brought this topic into the palace?"

Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với tướng quân Vidudabha:
– Này Tướng quân, ai đă đem vấn đề này vào trong nội cung ?

 

"Sañjaya, the brahman of the Akasa clan, great king."


– Tâu Đại vương, Bà-la-môn Sanjaya, thuộc ḍng họ Akasa.

 

So King Pasenadi turned to one of his men, "Come, my good man. Summon Sañjaya the brahman of the Akasa clan, saying, 'King Pasenadi Kosala summons you.'"


Rồi vua Pasenadi nước Kosala cho gọi một người:
– Đến đây, này Người kia, hăy nhân danh ta, bảo với Bà-la-môn Sanjaya thuộc ḍng họ Akasa: "Thưa Tôn giả, vua Pasenadi nước Kosala cho gọi Tôn giả".

 

Responding, "As you say, sire," the man went to Sañjaya the brahman of the Akasa clan and on arrival said to him, "King Pasenadi Kosala summons you."

– Thưa vâng, tâu Đại vương.
Người ấy vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, đi đến Bà-la-môn Sanjaya thuộc ḍng họ Akasa, sau khi đến, liền thưa với Bà-la-môn Sanjaya, thuộc ḍng họ Akasa: "Thưa Tôn giả, vua Pasenadi nước Kosala cho gọi Tôn giả".

 

Then King Pasenadi Kosala said to the Blessed One, "Could it be that something was said by the Blessed One in reference to something else, which a person could have misunderstood? In what way does the Blessed One recall having said [such] a statement?"

Rồi vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, rất có thể những điều Thế Tôn nói về một vấn đề khác, được người ta gán vào một vấn đề khác. Bạch Thế Tôn, liên hệ vấn đề ǵ Thế Tôn tự xem là nói những lời nói ấy ?

 

"Great king, I recall having said, 'It is not possible that a priest or contemplative could know everything and see everything all at once.'"


– Thưa Đại vương, Ta tự xem là đă nói những lời như sau: "Không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể trong một lúc, biết hoàn toàn và thấy hoàn toàn, không thể có sự t́nh như vậy".

 

"What the Blessed One says, lord, seems reasonable. What the Blessed One says seems logical: 'It is not possible that a priest or contemplative could know everything and see everything all at once.'


– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết có nhân duyên (heturupam). Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết liên hệ đến nhân duyên (saheturupam) và nói như sau: "Không có một Sa-môn nào hay Bà-la-môn nào có thể trong một lúc, biết hoàn toàn và thấy hoàn toàn, không thể có sự t́nh như vậy".

 

"Lord, there are these four castes:
-Noble warriors,
-Priests (brahmans),
-Merchants,
-& Workers.
Is there any distinction or difference among them?"



Bạch Thế Tôn, có bốn giai cấp này:
-Sát-đế-lỵ,
-Bà-la-môn,
-Phệ-xá
-Và Thủ-đà.
Bạch Thế Tôn, giữa bốn giai cấp này có những khác biệt nào, sai biệt nào ?

 

"Great king, of these four castes, two — noble warriors & priests — are held to be foremost in terms of receiving homage, hospitality, salutation, & polite services."


– Thưa Đại vương, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá và Thủ-đà. Thưa Đại vương, giữa bốn giai cấp này, hai giai cấp Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn được xem là tối thượng về xưng hô; hai giai cấp kia từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay và giúp đỡ họ các công việc.

 

"I'm not asking about the present life, lord. I'm asking about the future life. Is there any distinction or difference among these four castes?"


– Bạch Thế Tôn, con không hỏi về hiện tại. Bạch Thế Tôn, con hỏi về tương lai. Bạch Thế Tôn, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá và Thủ-đà. Bạch Thế Tôn, trong bốn giai cấp này, có những khác biệt nào, sai biệt nào ?

 

"Great king, there are these five factors for exertion. Which five?


– Thưa Đại vương, có năm tinh cần chi này. Thế nào là năm ?

 

"There is the case where a monk has conviction, is convinced of the Tathagata's Awakening: 'Indeed, the Blessed One is worthy and rightly self-awakened, consummate in knowledge & conduct, well-gone, an expert with regard to the world, unexcelled as a trainer for those people fit to be tamed, the Teacher of divine & human beings, awakened, blessed.'


Ở đây, thưa Đại vương, Tỷ-kheo có ḷng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai: "Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

 

"He is free from illness & discomfort, endowed with good digestion — not too cold, not too hot, of moderate strength — fit for exertion.


Vị ấy ít bệnh, ít năo, sự tiêu hóa được điều ḥa, không lạnh quá, không nóng quá, trung b́nh, hợp với tinh tấn.

 

"He is neither fraudulent nor deceitful. He declares himself to the Teacher or to his wise friends in the holy life in line with what he actually is.


Vị ấy không gian trá, không xảo trá, nêu rơ tự ḿnh như chơn đối với bậc Đạo sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các đồng Phạm hạnh.

 

"He keeps his persistence aroused for abandoning unskillful mental qualities and taking on skillful mental qualities. He is steadfast, solid in his effort, not shirking his duties with regard to skillful mental qualities.


Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, kiên cố, kiên tŕ, không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp.

 

"He is discerning, endowed with discernment leading to the arising of the goal — noble, penetrating, leading to the right ending of stress.


Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt các pháp, với sự thể nhập của các bậc Thánh, đưa đến chơn chánh đoạn diệt các khổ đau".

 

"These are the five factors for exertion.



Có năm tinh cần chi này.

 

"As for the four castes, great king: If they were endowed with these five factors for exertion, that would be for their long-term welfare & happiness."


Thưa Đại vương có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà. Và nếu các giai cấp này thành tựu năm tinh cần chi này, như vậy sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài cho họ.

 

"Lord, if these four castes were endowed with these five factors for exertion, would there be any distinction or difference among them in that respect?"


– Bạch Thế Tôn, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà. Nếu những vị này thành tựu năm tinh cần chi này, bạch Thế Tôn, ở đây có sự khác biệt ǵ, có sự sai biệt ǵ ?

 

"I tell you, great king: the difference among them would lie in the diversity of their exertion. Suppose that there were two tamable elephants, tamable horses, or tamable oxen that were well-tamed & well-trained; and two tamable elephants, tamable horses, or tamable oxen that were untamed & untrained. What do you think: would the two tamable elephants, tamable horses, or tamable oxen that were well-tamed & well-trained acquire the habits of the tamed and reach the status of the tamed?"


Thưa Đại vương, ở đây, Ta nói đến sự sai biệt trong tinh cần. Ví như, thưa Đại vương, giữa những con voi đáng được điều phục, hay những con ngựa đáng được điều phục, hay những con ḅ đáng được điều phục, có hai con voi, hai con ngựa, hay hai con ḅ được khéo điều phục, được khéo huấn luyện, và có hai con voi, hai con ngựa, hay hai con ḅ không được khéo điều phục, không được khéo huấn luyện. Thưa Đại Vương, Đại vương nghĩ thế nào ? Hai con voi, hai con ngựa, hay hai con ḅ được khéo điều phục, được khéo huấn luyện, có phải chúng được điều phục, đạt được khả năng điều phục (dantakaranam), chúng được điều phục, đạt được vị trí điều phục (dantabhumi) ?

 

"Yes, lord."


– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

 

"And would the two tamable elephants, tamable horses, or tamable oxen that were untamed & untrained acquire the habits of the tamed and reach the status of the tamed?"


– C̣n hai con voi, hai con ngựa, hay hai con ḅ không được khéo điều phục kia, không được khéo huấn luyện kia, không được điều phục mà chúng đạt được khả năng điều phục, không được điều phục mà chúng đạt được vị trí điều phục như hai con voi, hai con ngựa, hay hai con ḅ được khéo điều phục kia, được khéo huấn luyện kia ?

 

"No, lord."


– Thưa không, bạch Thế Tôn.

 

"In the same way, great king, it is impossible that what could be attained by one who has confidence, who is free from illness, who is neither fraudulent nor deceitful, whose persistence is aroused, and who is discerning could also be attained by one who is without conviction, who is sickly, fraudulent & deceitful, lazy, and dull."


– Cũng vậy, thưa Đại vương, những ǵ đạt được do ḷng tin, do ít bệnh tật, do không gian trá, không dối trá, do tinh cần tinh tấn, do trí tuệ, cũng sẽ do bất tín, do nhiều bệnh tật, do xảo trá, do dối trá đạt được, sự t́nh như vậy không thể xảy ra.

 

"What the Blessed One says, lord, seems reasonable. What the Blessed One says seems logical. But with regard to these four castes: if they were endowed with these five factors for exertion, and they had right exertion, would there be any distinction or difference among them in that respect?"


– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết có nhân duyên (heturupam), Thế Tôn thuyết liên hệ đến nhân duyên. Bạch Thế Tôn, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà. Và nếu các vị này thành tựu năm tinh cần chi này, nếu họ chân chánh tinh cần, th́ bạch Thế Tôn, có thể có sự khác biệt nào, có thể có sự sai biệt nào giữa các vị này không ?

 

"I tell you, great king, that there would be no difference among them with regard to the release of one and the release of another. Suppose that a man, taking dry sala wood, were to generate a fire and make heat appear. And suppose that another man, taking dry saka (teak?) wood, were to generate a fire and make heat appear. And suppose that another man, taking dry mango wood, were to generate a fire and make heat appear. And suppose that another man, taking dry fig wood, were to generate a fire and make heat appear. Now what do you think, great king: among those fires generated from different kinds of wood, would there be any difference between the glow of one and the glow of another, the color of one and the color of another, the radiance of one and the radiance of another?"


Thưa Đại vương, ta nói không có sự khác biệt ǵ về phương diện giải thoát đối với giải thoát. Ví như, thưa Đại vương, một người đem củi khô từ cây sala lại và nhen lửa, lửa sẽ hiện ra. Và một người khác đem củi khô từ cây sala lại và nhen lửa, lửa sẽ hiện ra. Rồi có một người khác đem củi khô từ cây xoài lại và nhen lửa, lửa sẽ hiện ra. Rồi có một người khác đem củi khô từ cây udumbara (cây sung ?) lại và nhen lửa, lửa sẽ hiện ra. Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào ? V́ rằng các loại củi dùng để nhen lửa sai khác, vậy có những sai khác ǵ, giữa ngọn lửa với ngọn lửa, giữa màu sắc với màu sắc, giữa ánh sáng với ánh sáng ?

 

"No, lord."


– Thưa không, bạch Thế Tôn.

 

"In the same way, great king, in the power that is kindled by persistence and generated by exertion, I say that there is no difference with regard to the release of one and the release of another."


– Cũng vậy, thưa Đại vương, với sức nóng do tinh tấn tạo nên, do tinh cần nhen nhúm lên, ở đây, Ta nói không có một sự sai biệt ǵ về giải thoát đối với giải thoát.

 

"What the Blessed One says, lord, seems reasonable. What the Blessed One says seems logical. But, lord, are there devas?"


– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết có nhân duyên, Thế Tôn thuyết liên hệ đến nhân duyên. Bạch Thế Tôn, nhưng có chư Thiên không ?

 

"But why do you ask, 'But, lord, are there devas?'?"


– Thưa Đại vương, sao Đại vương có thể nói: "Bạch Thế Tôn, nhưng có chư Thiên không ?"

 

"Whether the devas come back to this life, lord, or whether they don't."


– Bạch Thế Tôn, không biết chư Thiên ấy có sanh lại tại đây không hay không sanh lại tại đây ?

 

"Those devas who are afflicted 2 come back to this life, whereas those devas who are unafflicted don't come back to this life."


– Thưa Đại vương, chư Thiên nào có năo hại tâm, sanh lại tại đây; chư Thiên nào không có năo hại tâm, không sanh lại tại đây.

 

When this was said, General Vidudabha said to the Blessed One, "Lord, can the afflicted devas oust or expel the unafflicted devas from that place?"


Khi được nghe nói vậy, tướng quân Vidudabha bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, chư Thiên có năo hại tâm, sanh lại tại đây có thể đánh đuổi hay trục xuất chư Thiên không có năo hại tâm, không sanh lại tại đây không ?

 

Then the thought occurred to Ven. Ananda, "This General Vidudabha is the son of King Pasenadi Kosala, and I am the son of the Blessed One. Now is the time for the son to counsel the son." So Ven. Ananda turned to General Vidudabha and said, "In that case, general, I will ask you a counter question. Answer as you see fit. Through the extent of land conquered by King Pasenadi Kosala — where he exercises sovereign & independent kingship — is he able to oust or expel a priest or contemplative from that place, regardless of whether that person has merit or not, or follows the holy life or not?"


Tôn giả Ananda khởi lên ư nghĩ như sau: "Tướng quân Vidudabha này là con vua Pasenadi nước Kosala, ta là con Thế Tôn. Nay đă đến thời người con nói chuyện với người con". Rồi Tôn giả Ananda nói với tướng quân Vidudabha:
– Này Tướng quân, nay ở đây, tôi sẽ hỏi lại Tướng quân vấn đề này. Nếu có thể được, Tướng quân hăy trả lời. Này Tướng quân, Tướng quân nghĩ thế nào ? Xa rộng cho đến lănh thổ của vua Pasenadi nước Kosala, và tại chỗ của vua Pasenadi nước Kosala ngự trị, trị v́; tại chỗ ấy, vua Pasenadi nước Kosala có thể đánh đuổi hay trục xuất vị Sa-môn hay Bà-la-môn có công đức tu hành hay không có công đức tu hành, có sống Phạm hạnh hay không sống Phạm hạnh ra khỏi chỗ ấy không ?

 

"Sir, through the extent of land conquered by King Pasenadi Kosala — where he exercises sovereign & independent kingship — he is able to oust or expel a priest or contemplative from that place, regardless of whether that person has merit or not, or follows the holy life or not."


– Thưa Tôn giả, xa rộng cho đến lănh thổ của vua Pasenadi nước Kosala và chỗ nào vua Pasenadi nước Kosala ngự trị, trị v́; tại chỗ ấy, vua Pasenadi nước Kosala có thể đánh đuổi hay trục xuất vị Sa-môn hay Bà-la-môn có công đức tu hành, hay không có công đức tu hành, có sống Phạm hạnh hay không sống Phạm hạnh ra khỏi chỗ ấy.

 

"And what do you think, general: Through the extent of land not conquered by King Pasenadi Kosala — where he does not exercise sovereign & independent kingship — is he able to oust or expel a priest or contemplative from that place, regardless of whether that person has merit or not, or follows the holy life or not?"


– Thưa Tướng quân, Tướng quân nghĩ thế nào ? Xa rộng ra ngoài lănh thổ của vua Pasenadi nước Kosala, và tại chỗ của vua Pasenadi nước Kosala không ngự trị, không trị v́; tại chỗ ấy, vua Pasenadi nước Kosala có thể đánh đuổi hay trục xuất vị Sa-môn hay Bà-la-môn có công đức tu hành hay không có công đức tu hành, có sống Phạm hạnh hay không sống Phạm hạnh ra khỏi chỗ ấy không ?

 

"Sir, through the extent of land not conquered by King Pasenadi Kosala — where he does not exercise sovereign & independent kingship — he is not able to oust or expel a priest or contemplative from that place, regardless of whether that person has merit or not, or follows the holy life or not."


– Thưa Tôn giả, xa rộng ra ngoài lănh thổ của vua Pasenadi nước Kosala, và tại chỗ của vua Pasenadi nước Kosala không ngự trị, không trị v́; tại chỗ ấy, vua Pasenadi nước Kosala không có thể đánh đuổi hay trục xuất vị Sa-môn hay Bà-la-môn có công đức tu hành hay không có công đức tu hành, có sống Phạm hạnh hay không sống Phạm hạnh ra khỏi chỗ ấy.

 

"And what do you think, general: Have you heard of the Devas of the Thirty-three?"


– Thưa Tướng quân, Tướng quân có nghe nói đến chư Thiên ở cơi trời Ba mươi ba không ?

 

"Yes, sir, I have heard of the Devas of the Thirty-three, as has King Pasenadi Kosala."


– Thưa vâng, Tôn giả. Chúng tôi có nghe nói đến chư Thiên ở cơi trời Ba mươi ba. Và ở đây, vua Pasenadi nước Kosala cũng nghe có nói đến chư Thiên ở cơi trời Ba mươi ba.

 

"And what do you think, general: Could King Pasenadi Kosala oust or expel the Devas of the Thirty-three from that place?"


– Này Tướng quân, Ông nghĩ thế nào ? Vua Pasenadi nước Kosala có thể đánh đuổi hay trục xuất chư Thiên ở cơi trời Ba mươi ba ra khỏi chỗ ấy được không ?

 

"Sir, King Pasenadi Kosala can't even see the Devas of the Thirty-three. How could he oust or expel them from that place?"


– Thưa Tôn giả, vua Pasenadi nước Kosala không thể thấy chư Thiên ở cơi trời Ba mươi ba, làm sao vua lại có thể đánh đuổi hay trục xuất chư Thiên ở cơi trời Ba mươi ba ra khỏi chỗ ấy ?

 

"In the same way, general, afflicted devas, who will come back to this life, can't even see the unafflicted devas who don't come back to this life. How could they oust or expel them from that place?"


– Cũng vậy, này Tướng quân, chư Thiên có năo hại tâm, sanh lại tại đây, không có thể thấy được chư Thiên không có năo hại tâm, không sanh lại tại đây, làm sao lại có thể đánh đuổi hay tẩn xuất chư Thiên không có năo hại tâm, không sanh lại tại đây ra khỏi chỗ ấy được?

 

Then King Pasenadi Kosala said to the Blessed One, "Lord, what is the name of this monk?"


Rồi vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy tên gọi là ǵ ?

 

"His name is Ananda (Joy), great king."


– Thưa Đại vương, tên là Ananda !

 

"What a joy he is! What a true joy! But, lord, are there brahmas?"


– Thật hân hoan thay ! Thật hoan hỷ thay ! Tôn giả Ananda thuyết có nhân duyên, Ananda thuyết liên hệ đến nhân duyên. Bạch Thế Tôn, có Phạm thiên không ?

 

"But why do you ask, 'But, lord, are there brahmas?'?"


– Thưa Đại vương, sao Đại vương có thể nói như vậy: "Bạch Thế Tôn, có Phạm thiên không ?".

 

"Whether the brahmas come back to this life, lord, or whether they don't."


– Bạch Thế Tôn, Phạm thiên có sanh lại tại đây hay không sanh lại tại đây ?

 

"Those brahmas who are afflicted come back to this life, whereas those brahmas who are unafflicted don't come back to this life."


– Thưa Đại vương, nếu Phạm thiên có năo hại tâm th́ Phạm thiên ấy có sanh lại tại đây. Nếu không có năo hại tâm, thời Phạm thiên ấy không sanh lại tại đây.

 

Then a man said to King Pasenadi Kosala, "Great king, Sañjaya the brahman of the Akasa clan has come."


Rồi một người khác tâu với vua Pasenadi nước Kosala:
– Tâu Đại vương, Bà-la-môn Sanjaya, thuộc ḍng họ Akasa đă đến.

 

Then King Pasenadi Kosala said to Sañjaya the brahman of the Akasa clan:
"Who brought that topic into the royal palace?"


Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với Bà-la-môn Sanjaya, thuộc ḍng họ Akasa:
– Này Bà-la-môn, ai phổ biến câu chuyện này trong nội cung?

 

"General Vidudabha, great king."


– Tâu Đại vương, tướng quân Vidudabha.

 

General Vidudabha said, "Sañjaya the brahman of the Akasa clan, great king."



Tướng quân Vidudabha lại nói:
– Tâu Đại vương, chính Bà-la-môn Sanjaya, thuộc ḍng họ Akasa.

 

Then a man said to King Pasenadi Kosala, "Time to go, great king."



Rồi có một người tâu với vua Pasenadi nước Kosala:
– Tâu Đại vương, nay đă đến thời dùng xe.

 

So King Pasenadi Kosala said to the Blessed One, "Lord, we have asked the Blessed One about omniscience, the Blessed One has answered about omniscience, and that is pleasing & agreeable to us, and we are gratified because of it. We have asked the Blessed One about the purity of the four castes, the Blessed One has answered about the purity of the four castes, and that is pleasing & agreeable to us, and we are gratified because of it. We have asked the Blessed One about the higher devas, the Blessed One has answered about the higher devas, and that is pleasing & agreeable to us, and we are gratified because of it. We have asked the Blessed One about the higher brahmas, the Blessed One has answered about the higher brahmas, and that is pleasing & agreeable to us, and we are gratified because of it. Whatever we have asked the Blessed One about, that he has answered, and that is pleasing & agreeable to us, and we are gratified because of it. Now, lord, we must go. Many are our duties, many our responsibilities."


Rồi vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, chúng con đă hỏi Thế Tôn về nhất thiết trí. Thế Tôn đă trả lời về nhất thiết trí. Câu trả lời ấy làm cho chúng con thoải mái, được chúng con chấp nhận, nên chúng con hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, chúng con đă hỏi Thế Tôn về sự thanh tịnh của bốn giai cấp. Thế Tôn đă trả lời cho chúng con về sự thanh tịnh của bốn giai cấp. Câu trả lời ấy làm cho chúng con thoải mái, được chúng con chấp nhận, nên chúng con hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, chúng con hỏi Thế Tôn về chư Thiên (Adhideve) và Thế Tôn đă trả lời về chư Thiên. Câu trả lời ấy làm cho chúng con thoải mái, được chúng con chấp nhận nên chúng con hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, chúng con hỏi Thế Tôn về Phạm thiên và Thế Tôn đă trả lời về Phạm thiên. Câu trả lời ấy làm cho chúng con thoải mái, được chúng con chấp nhận nên làm chúng con hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, và những điều ǵ chúng con hỏi Thế Tôn, vấn đề ấy Thế Tôn đă trả lời, và câu trả lời ấy làm cho chúng con thoải mái, được chúng con chấp nhận nên chúng con hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải đi. Chúng con có nhiều công việc, có nhiều phận sự phải làm.

 

"Then do, great king, what you think it is now time to do."


– Đại vương hăy làm những ǵ Đại vương nghĩ là hợp thời.

 

Then King Pasenadi Kosala, delighting in and approving of the Blessed One's words, got up from his set, bowed down to the Blessed One and — keeping him to his right — departed.



Rồi vua Pasenadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

 

Notes

1. According to the Commentary, Soma and Sakula were two wives of the king. The Commentary's treatment of this incident as a whole, however, seems aimed at taking the teeth out of the satire, perhaps to appease the royal patrons of the monks who compiled the Commentary. It insists that the two sisters did not barge in on the king as his meal was being served, but were actually taking part in the meal-serving ceremony. However, the sisters' tone of voice in delivering their request to the king is anything but servile. So perhaps the Commentary is mistaken about their identity as well.

2. According to the Commentary, "afflicted" here means still subject to suffering; "unafflicted" means free from the roots of suffering.

 

See also: SN 3.24; AN 3.57

 Chủ biên và điều hành: TT Thích Giác Đẳng.

 Những đóng góp dịch thuật xin gửi về TT Thích Giác Đẳng tại giacdang@phapluan.com
Cập nhập ngày: Thứ Sáu 08-11-2006

Kỹ thuật tŕnh bày: Minh Hạnh & Thiện Pháp

| | trở về đầu trang | Home page |